
(tk. lưới giã, lưới vét, lưới cào, giã cào), loại ngư cụ chủ động, dùng sức của tàu thuyền kéo lưới chuyển động trong nước để bắt cá. Trong nước, LK có dạng một túi lưới hình nón thon dần về phía sau, được tàu thuyền kéo đi bằng dây cáp. Thành phần cấu tạo gồm: cánh lưới (mở rộng để lùa cá), thân lưới hình nón cụt (để dồn cá vào đụt), đụt lưới (túi chứa cá, có mắt nhỏ nhất). Có nhiều kiểu LK: LK đơn một tàu kéo, LK đôi hai tàu kéo, LK mạn (2 dây kéo mắc ở mạn tàu), LK đuôi (2 dây kéo mắc ở đuôi tàu), LK cá, LK tôm, LK moi, LK điệp, LK san hô, LK đáy, LK tầng giữa, LK thủ công hay cơ giới, LK ván (mở miệng lưới bằng ván), LK khung, vv. LK là công cụ có hiệu suất cao, khai thác được nhiều loại thuỷ sản có giá trị. Ở Việt Nam, các loại LK thủ công đã có từ lâu đời, chủ yếu là các nghề LK ven bờ. LK cơ giới được nhập vào Miền Bắc Việt Nam từ 1958. LK đáy là loại LK năng suất cao, đòi hỏi lực kéo lớn; chiều dài LK đáy 20 - 70 m, hai đầu cách nhau 15 - 35 m; trong 2 giờ, có thể đạt sản lượng vài chục tấn mỗi mẻ. LK đáy được kéo bằng tàu LK hay thuyền buồm, bè có buồm (thuyền giã, bè giã).